A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

ĐỔI MỚI SÁNG TẠO: TỪ CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC ĐẾN HIỆU QUẢ THỰC TIỄN

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập định hướng đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Sau một năm rưỡi triển khai, bên cạnh những chuyển biến tích cực, các hạn chế về tổ chức thực hiện, liên kết nghiên cứu với doanh nghiệp, năng lực tiếp nhận công nghệ và hiệu quả sử dụng nguồn lực đang đặt ra yêu cầu tháo gỡ. Vấn đề cốt lõi là chuyển hóa quyết tâm chiến lược thành những kết quả cụ thể, góp phần nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng phát triển của đất nước.

Nếu công nghệ giúp nâng chất lượng sản phẩm thì chuyển đổi số và thương mại điện tử đang mở rộng không gian thị trường cho những sản phẩm vùng cao.

Từ định hướng chiến lược đến yêu cầu phát triển thực chất

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Giá trị phát triển không chỉ được tạo ra từ vốn đầu tư, lao động và tài nguyên mà còn từ tri thức, công nghệ, phương thức quản trị và khả năng tổ chức sản xuất hiệu quả hơn.

Đối với Việt Nam, đổi mới sáng tạo có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và thúc đẩy phát triển bền vững.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác lập những định hướng chiến lược cho quá trình này. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng và thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ vào thực tiễn.

Việc Quốc hội ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 cùng các văn bản triển khai tiếp tục tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ, chuyển giao và đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, chủ trương đúng và thể chế được hoàn thiện mới là những điều kiện quan trọng ban đầu. Hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào chất lượng tổ chức thực hiện, khả năng huy động và sử dụng nguồn lực, cũng như mức độ chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế – xã hội.

Những chuyển biến tích cực và khoảng cách cần thu hẹp

Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 7/7/2026 về kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết một năm sáu tháng thực hiện Nghị quyết 57 ghi nhận những chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động trong hệ thống chính trị.

Theo thông báo, thể chế, cơ chế và chính sách từng bước được hoàn thiện; hạ tầng số tiếp tục được đầu tư; một số nền tảng và dịch vụ số phát huy hiệu quả trong quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc xác định 10 công nghệ chiến lược, gắn với 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn của quốc gia cho thấy nỗ lực tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm. Hoạt động liên kết giữa Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp bước đầu có kết quả; một số doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

Tuy nhiên, kết luận sơ kết cũng chỉ rõ những hạn chế về thể chế, hạ tầng, nhân lực, dữ liệu, an ninh mạng, an toàn thông tin và giải ngân vốn. Kết quả thực tế chưa tương xứng với chủ trương, nguồn lực và quyết tâm chính trị; chưa tạo ra nhiều sản phẩm chiến lược cụ thể và chưa thể hiện rõ nét đóng góp vào tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực quản trị quốc gia.

Đặc biệt, kết luận xác định khâu yếu nhất hiện nay là tổ chức thực hiện.

Đây là cơ sở quan trọng để chuyển trọng tâm đánh giá từ việc ban hành chính sách, xây dựng kế hoạch sang chất lượng thực thi và những kết quả có thể kiểm chứng.

Bốn điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ

Thứ nhất, khoảng cách giữa chính sách và tổ chức thực hiện.

Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ chỉ rõ sự khác biệt về kết quả giữa những nơi triển khai quyết liệt, có sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu với những nơi thực hiện còn hình thức, chậm trễ. Kết luận đồng thời yêu cầu xác định rõ nhiệm vụ, vướng mắc, nguyên nhân, trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành.

Điều đó cho thấy hiệu quả triển khai không chỉ phụ thuộc vào nội dung chính sách mà còn gắn với phương thức điều hành, trách nhiệm thực thi và khả năng phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức.

Từ góc độ quản lý, cần phân biệt việc hoàn thành thủ tục với việc hoàn thành mục tiêu. Ban hành kế hoạch, phân bổ kinh phí hoặc nghiệm thu nhiệm vụ là những công đoạn cần thiết, nhưng chưa đủ để khẳng định một chương trình đổi mới sáng tạo đã tạo ra hiệu quả thực tiễn.

Thứ hai, liên kết giữa nghiên cứu và doanh nghiệp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu.

Trong bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 1/10/2025, TS. Vương Quốc Thắng phân tích vai trò của sự hợp tác giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và cơ quan nhà nước trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân.

Cùng hướng tiếp cận, bài viết “Khi đổi mới sáng tạo vẫn còn ‘lửng lơ’ ở cửa ngõ doanh nghiệp” trên Tạp chí Tài chính phản ánh những hạn chế trong liên kết nghiên cứu – doanh nghiệp và khó khăn về tiếp cận nguồn lực, cơ chế hỗ trợ.

Tạp chí này cũng dẫn ý kiến của TS. Nguyễn Đức Hiển, nguyên Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, tại Diễn đàn Kịch bản Kinh tế Việt Nam thường niên lần thứ 16, về những hạn chế trong thể chế hóa chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Những nghiên cứu và ý kiến chuyên gia nêu trên đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tế. Đối với những nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, doanh nghiệp cần có điều kiện tham gia từ khâu xác định vấn đề, thử nghiệm đến tiếp nhận và khai thác kết quả.

Thứ ba, năng lực tiếp nhận công nghệ và đổi mới quản trị của doanh nghiệp còn hạn chế.

Đổi mới sáng tạo không đơn thuần là mua sắm thiết bị hiện đại hoặc ứng dụng phần mềm mới. Hiệu quả còn phụ thuộc vào năng lực quản trị, trình độ nhân lực và khả năng cải tiến quy trình hoạt động.

Nghiên cứu của Trần Khương Minh, công bố trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo ngày 16/2/2025, khảo sát 289 người giữ vị trí lãnh đạo từ cấp trưởng phòng hoặc tương đương trở lên, có kinh nghiệm làm việc tại doanh nghiệp ở Việt Nam. Nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của đổi mới chiến lược, quy trình và hệ thống đối với lợi thế cạnh tranh bền vững của nhóm doanh nghiệp khởi nghiệp được khảo sát.

Kết quả này có giá trị tham khảo trong phạm vi mẫu nghiên cứu, không thể suy rộng thành nhận định đại diện cho toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Trên Tạp chí Tài chính, chuyên gia Lê Huy Hoàng của FPT Digital cũng phản ánh những khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lựa chọn lộ trình đổi mới sáng tạo, đặc biệt là chi phí tư vấn, năng lực triển khai và sự thiếu đồng bộ giữa đầu tư công nghệ với đổi mới con người, quy trình.

Những dẫn chứng đó cho thấy chính sách hỗ trợ cần chú trọng nâng cao năng lực tiếp nhận và khai thác công nghệ, thay vì chỉ tập trung vào việc trang bị công nghệ.

Thứ tư, nguồn lực và phương thức đánh giá hiệu quả chưa đồng bộ.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đòi hỏi đầu tư dài hạn, đồng thời cần sự hỗ trợ của hạ tầng kỹ thuật, dữ liệu, nhân lực và cơ chế tài chính phù hợp.

Những hạn chế về hạ tầng, nhân lực và giải ngân vốn đã được nêu trong kết luận sơ kết Nghị quyết 57. Đây là những vấn đề cần được xử lý đồng bộ để bảo đảm tiến độ và chất lượng triển khai.

Từ góc độ nghiên cứu, hiệu quả sử dụng nguồn lực cần được xem xét trong toàn bộ quá trình: xác định nhiệm vụ, tổ chức nghiên cứu, thử nghiệm, nghiệm thu, chuyển giao và đánh giá tác động.

Đặc biệt, cần phân biệt mục tiêu của nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản phải được đánh giá theo chất lượng khoa học và đóng góp tri thức; nghiên cứu ứng dụng cần chú trọng khả năng sử dụng và hiệu quả kinh tế, kỹ thuật hoặc xã hội.

Cách tiếp cận này vừa bảo đảm sử dụng nguồn lực có trách nhiệm, vừa tránh áp đặt những tiêu chí thương mại không phù hợp với đặc thù hoạt động khoa học.

Giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn

Từ những hạn chế đã được chỉ ra trong kết luận chính thức và các nghiên cứu chuyên ngành, có thể tập trung vào bốn nhóm giải pháp chủ yếu.

Một là, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, gắn trách nhiệm với kết quả.

Các cơ quan chủ trì cần cụ thể hóa nhiệm vụ thành sản phẩm, thời hạn và tiêu chí đánh giá rõ ràng; xác định trách nhiệm của người đứng đầu và cơ chế phối hợp trong quá trình triển khai.

Hoạt động kiểm tra, giám sát cần chú trọng tháo gỡ vướng mắc, đánh giá tiến độ và chất lượng sản phẩm, thay vì chỉ tập trung vào việc hoàn thành thủ tục. Đối với các chương trình có mục tiêu ứng dụng, cần theo dõi cả kết quả chuyển giao và mức độ sử dụng sau nghiệm thu.

Hai là, tăng cường liên kết nghiên cứu – doanh nghiệp, lấy nhu cầu thực tiễn làm cơ sở cho nghiên cứu ứng dụng.

Cần phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xác định nhu cầu công nghệ, đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm và tiếp nhận kết quả. Đồng thời, tạo điều kiện để viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên cơ sở lợi ích và trách nhiệm được xác định rõ.

Cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, chuyển giao công nghệ, khai thác kết quả nghiên cứu và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định pháp luật.

Ba là, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, gắn công nghệ với con người và quản trị.

Các chương trình hỗ trợ, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần xuất phát từ nhu cầu cụ thể và khả năng tiếp nhận công nghệ.

Bên cạnh đầu tư thiết bị, cần chú trọng đào tạo nhân lực, cải tiến quy trình, quản trị dữ liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm năng lượng và sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Hiệu quả hỗ trợ cần được đánh giá thông qua những thay đổi thực tế về năng suất, chất lượng, chi phí và năng lực cạnh tranh, phù hợp với điều kiện của từng nhóm doanh nghiệp.

Bốn là, sử dụng hiệu quả nguồn lực, đổi mới phương thức đánh giá kết quả khoa học và công nghệ.

Cần bảo đảm sự đồng bộ giữa cơ chế tài chính, hạ tầng, dữ liệu và nhân lực; đồng thời lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu theo mục tiêu, tính cấp thiết và khả năng tạo ra giá trị.

Việc đánh giá phải phù hợp với từng loại nhiệm vụ, tôn trọng đặc thù và rủi ro của nghiên cứu khoa học theo quy định pháp luật.

Đối với nghiên cứu ứng dụng, có thể sử dụng những chỉ tiêu như mức độ tiếp nhận kết quả, khả năng cải thiện năng suất, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ hoặc tác động tích cực đến môi trường và xã hội. Các chỉ tiêu cần được xác định từ đầu, có phương pháp thu thập dữ liệu và kiểm chứng rõ ràng.

Bốn nhóm giải pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ. Tổ chức thực hiện hiệu quả tạo điều kiện phát huy nguồn lực; liên kết nghiên cứu với doanh nghiệp nâng cao khả năng ứng dụng; phát triển nhân lực và năng lực quản trị giúp khai thác công nghệ; còn đánh giá theo kết quả góp phần nâng cao trách nhiệm và hiệu quả đầu tư.

Từ quyết tâm chiến lược đến giá trị phát triển

Đổi mới sáng tạo không phải là mục tiêu tự thân mà là phương thức tạo ra năng lực và giá trị mới cho sự phát triển của đất nước. Thành quả của đổi mới sáng tạo không chỉ thể hiện ở công nghệ hay sản phẩm mới mà còn ở năng suất cao hơn, phương thức quản trị hiệu quả hơn, chất lượng dịch vụ tốt hơn và khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội một cách bền vững.

Những chuyển biến bước đầu trong thực hiện Nghị quyết 57 tạo cơ sở quan trọng để tiếp tục thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, các hạn chế được chỉ ra tại hội nghị sơ kết cùng những vấn đề được giới nghiên cứu và chuyên gia phản ánh cho thấy yêu cầu nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện.

Vấn đề cốt lõi là thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, giữa nghiên cứu và ứng dụng, giữa đầu tư nguồn lực và hiệu quả tạo ra.

Khi những điểm nghẽn về tổ chức thực hiện, liên kết nghiên cứu – doanh nghiệp, năng lực tiếp nhận công nghệ và sử dụng nguồn lực được tháo gỡ một cách thực chất, đổi mới sáng tạo sẽ có điều kiện đóng góp rõ nét hơn vào nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, chất lượng quản trị và phát triển bền vững của Việt Nam.

Đó cũng chính là thước đo quan trọng của quá trình chuyển từ chủ trương chiến lược đến hiệu quả thực tiễn.

 

ThS. Nguyễn Mạnh Hiền

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Chính trị (22/12/2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-57.html

  2. Quốc hội (27/6/2025), Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: https://vanban.chinhphu.vn/?docid=214603&pageid=27160

  3. Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương (7/7/2026), Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ về kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết một năm sáu tháng thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 10/7/2026: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/thong-bao-so-24-tb-cqttbcd-ket-luan-cua-dong-chi-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-so-ket-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-so-57-nq-tw-119260710083249224.htm

  4. Văn phòng Trung ương Đảng (2/8/2026), Thông báo số 134-TB/VPTW về định hướng tiếp tục thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 5/8/2026: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nhung-dinh-huong-lon-trong-thuc-hien-nghi-quyet-57-nq-tw-giai-doan-toi-119260805163244167.htm

  5. Vương Quốc Thắng (1/10/2025), Tăng cường hợp tác doanh nghiệp – trường đại học, viện nghiên cứu – cơ quan nhà nước, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới. Tạp chí Cộng sản: https://tapchicongsan.org.vn/dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-cac-co-quan-dang-trung-uong-lan-thu-nhat-nhiem-ky-2025-2030/-/2018/1143002/view_content

  6. Trần Khương Minh (16/2/2025), Tác động của ứng dụng đổi mới sáng tạo đến lợi thế cạnh tranh bền vững của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo: https://kinhtevadubao.vn/tac-dong-cua-ung-dung-doi-moi-sang-tao-den-loi-the-canh-tranh-ben-vung-cua-cac-doanh-nghiep-khoi-nghiep-tai-viet-nam-30953.html

  7. Tạp chí Tài chính, Khi đổi mới sáng tạo vẫn còn “lửng lơ” ở cửa ngõ doanh nghiệp: https://tapchitaichinh.vn/khi-doi-moi-sang-tao-van-con-lung-lo-o-cua-ngo-doanh-nghiep.html